Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

TRADE MARKETING

Trade Marketing là một khái niệm không mới, nhưng với khả năng đem lại phần lớn doanh thu cho doanh nghiệp, công cụ này ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc xây dựng một chiến lược marketing hiệu quả.
Trade Marketing - chúng tôi làm gì?
Nếu như trong bài viết trước, Trade Pro đã chia sẻ với các bạn công việc hàng ngày của một brand team như thế nào, thì hôm nay chúng ta sẽ đi sâu hơn một khía cạnh sâu hơn thuộc client side: Trade Marketing và/hoặc Shopper Marketing. Trade Marketing là một khái niệm không mới, nhưng với khả năng đem lại phần lớn doanh thu cho doanh nghiệp, công cụ này ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc xây dựng một chiến lược marketing hiệu quả. Hãy cùng “vạch lá tìm sâu” và tìm hiểu đời sống của những người làm Trade Marketing nhé!
1. Vai trò của Trade marketing là gì?
Trade Marketing là chuỗi các hoạt động tiếp thị tại điểm bán (POS marketing) nhằm giành lấy “the first moment of truth” hay còn gọi là quyết định mua hàng của người mua hàng (shopper) với sản phẩm. Thông qua sự thấu hiểu insight của khách hàng mục tiêu (ở đây sẽ có 2 đối tượng chính: chủ cửa hàng và người mua hàng), các Trade Marketer sẽ xây dựng chiến lược ngành hàng, tổ chức các hoạt động thương hiệu trong kênh phân phối (tại điểm bán) nhằm tối ưu hóa lợi nhuận/doanh số cho doanh nghiệp.
2. Nhiệm vụ của người làm Trade Marketing: gồm có 4 nhiệm vụ chính:
a. Customer Development: Đây là nhiệm vụ phát triển và xây dựng hệ thống phân phối thông qua các hoạt động:
  • Phát triển kênh phân phối (Channel Development): Là những hoạt động nhằm mở rộng mạng lưới bán hàng của công ty, thông qua việc xây dựng hệ thống phân phối ở những khu vực mới từ thành thị đến nông thôn, xuất khẩu ra nước ngoài, hay mở rộng các kênh bán hàng của công ty từ kênh truyền thống sang kênh hiện đại, hay kênh online.
  • Chiết khấu thương mại (Trade discount): Là xây dựng hệ thống giá mà doanh nghiệp niêm yết cho các nhà phân phối, với một mức chiết khấu thích hợp để các nhà phân phối mua hàng và phân phối lại sản phẩm của công ty. Tùy vào số lượng mua hàng và loại hình phân phối mà công ty quyết định mức chiết khấu thương mại.
  • Chương trình khách hàng trung thành (Loyalty program): Là những hoạt động nhằm khuyến khích các nhà phân phối nhập hàng của công ty nhiều hơn. Ví dụ như những chương trình khuyến mãi dành cho các hóa đơn nhập hàng số lượng lớn, khuyến mãi quà tặng, khuyến mãi trả thưởng cuối năm.
  • Sự kiện, hội nghị khách hàng (customer events): Là những sự kiện tri ân, khen thưởng, tạo điều kiện cho đội ngũ bán hàng xây dựng mối quan hệ tốt với các đối tác phân phối bán hàng của công ty.
b. Category Development:
  • Đây là nhiệm vụ phát triển ngành hàng, với các chiến lược phổ biến:Chiến lược bao phủ và thâm nhập (Penetration)
  • Chiến lược Danh mục sản phẩm (Portfolio)
  • Chiến lược kích cỡ bao bì (pack – sizes)
  • Chiến lược giá (Pricing)
Những chiến lược này sẽ giúp tạo cơ hội cho thương hiệu tăng bao phủ, thêm thâm nhập tại cửa hiệu, qua đó sẽ có nhiều người mua, nhiều người dùng thử (Trade – in). Sau đó kích thích họ tiêu dùng nhiều sản phẩm với các chủng loại khác nhau hơn trong danh mục (Trade – across). Và cuối cùng đề xuất họ sử dụng những sản phẩm có giá trị cao hơn, đánh vào các nhu cầu cao hơn (Trade – up). Tùy vào tình hình thực tế của sản phẩm, mỗi doanh nghiệp sẽ sử dụng những chiến lược riêng thích hợp hoặc phối hợp để đem lại hiệu qủa cao nhất
  Xây dựng chiến lược thích hợp giúp thương hiệu phát triển
 c. Consumer Engagement: Là hoạt động marketing tại điểm bán (POS marketing) nhằm thúc đẩy thay đổi quyết định mua hàng của shopper, thông qua:
  • Khuyến mãi (Consumer Promotion): Ví dụ như dùng thử hàng mẫu miễn phí, Tặng quà, Giảm giá, Tặng phiếu mua hàng, Các chương trình trúng thưởng, …
  • Trưng bày hàng hóa (Merchandising): là việc sắp xếp và trưng bày danh mục sản phẩm với các nhãn hàng một cách hợp lý và bắt mắt nhất. Ví dụ: Tạo ưu tiên cho sản phẩm mới theo kiểu hàng kèm hàng, giúp công ty tận dụng các sản phẩm thành công trên thị trường để đưa ra sản phẩm mới.
  • Trưng bày Point of Sale Materials (POSM): Bill-board, bảng hiệu, kệ trưng bày, hộp trưng bày, hay đồng phục của Promotion Girl,…
  • Kích hoạt tại điểm bán (POS Activation): là những hoạt động hoạt náo nhằm lôi kéo sự chú ý của người mua hàng. Những hoạt động này thường được tổ chức tại siêu thị, trường học, trung tâm thương mại, … nơi có sự hiện diện của người tiêu dùng và các sản phẩm.
d. Company Engagement: Là hoạt động tương tác với đội Sale để thúc đẩy việc bán hàng, gia tăng doanh số. Các nhiệm vụ gồm có:
  • Dự báo, đặt mục tiêu (Sale Forecast/ Target): Là xác định cụ thể những mục tiêu về doanh thu, doanh số cho các sản phẩm, ngành hàng để đội ngũ Sales có thể lập chiến lược thích hợp.
  • Kích hoạt đội ngũ Sales (D-Day, Sale Brief): Là các hoạt động giới thiệu sản phẩm mới, truyền lửa, thúc đẩy và tạo động lực cho đội ngũ Sales khi làm việc.
  • Cuộc thi về trưng bày (Visibility/ Display contest): Là những cuộc thi được tổ chức để kích thích đội ngũ Sales làm việc sáng tạo, hiệu quả mang lại nhiều sáng kiến về những hoạt động tại điểm bán.
  • Bao phủ (Sale contest/ Rally).
Trade Marketing mang ý nghĩa quyết định trong chiến thắng tại điểm bán, thay đổi hành vi và quyết định của người mua hàng. Từ đó, hoạt động này tác động trực tiếp tới doanh số và lợi nhuận của công ty. Đối tượng làm việc của Trade Marketers là người mua hàng (shoppers) và các đối tác trong kênh phân phối (customers).
3. Những tố chất cần có của Trade Marketers:
Lên kế hoạch, dự báo: Là khả năng đọc hiểu và dự báo doanh số, lượng hóa các cơ hội kinh doanh và chứng minh tính khả thi của các kếhoạch đề xuất.
Phối hợp và dẫn dắt: Trade Marketing cần phối hợp với Marketing (Brand team) và Sale để tác động tới shopper, customer tại điểm bán. Sự phối hợp nhịp nhàng và kết quả thành công sẽ đem lại niềm tin của Sale và Marketing với Trade team.
Nhạy cảm về kinh doanh: Những người làm Trade Marketing cần có đầu óc thực tế và sự nhạy cảm về kinh doanh do phần lớn các chương trình Trade đều hướng tới mục tiêu doanh số.
Như vậy, có thể thấy Trade Marketing là một công việc thú vị nhưng cũng không kém phần áp lực. Với cán cân quyền lực đang dần đổ về những nhân sự đem lại con số doanh thu cho công ty, Trade Marketing là một kênh xứng đáng để đầu tư và phát triển cho các doanh nghiệp. 
Tác giả bài viết: Đinh Nhật Linh - TRADE PRO (sưu tầm và tổng hợp)

Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

THUẬT VIẾT BÁO CHO NGƯỜI LÀM SEO

Vậy cái mới là gì ?
+ Cái mới luôn luôn xuất hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống.
+ Cái mới - được hiểu với nghĩa là những sự việc, sự kiện, tình huống, hoàn cảnh mới nảy sinh, mới xuất hiện, tiêu biểu cho sự vận động phát triển không ngừng của cuộc sống .
- Việc phát hiện ra cái mới chưa phải là điều có tính chất quyết định. Điều còn quan trọng hơn nhiều, đó là việc phân tích  đánh giá để hiểu biết đúng bản chất của cái mới đó .
 - Trong nghề báo, cách học tốt nhất là học hỏi chính ngay trong cuộc sống, học bạn bè đồng nghiệp và tự học ngay trong quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân mình...
- Báo chí chỉ lựa chọn thông tin về những cái mới tiêu biểu, điển hình nhất. Đó là những cái mới tiêu biểu , điển hình, gắn liền với bản chất và phản ánh xu thế vận động đích thực của đời sống, đồng thời không được xâm hại đến quyền lợi của quốc gia.
Lưu ý: Cũng như các ngành khác, trong lĩnh vực Y tế, những cái mới có thể xuất hiện một  cách vô cùng đa dạng, phong phú trong mọi hoạt động của ngành. Ví dụ:
+ Những Chỉ thị, Nghị quyết có liên quan đến ngành Y
+ Những chính sách mới (hoặc được bổ sung, điều chỉnh…).
+ Những chủ trương, biện pháp, điều chỉnh mới của ngành.
+ Những nhiệm vụ mới.
+ Những thành tích mới, cố gắng mới.
+ Những sự kiện, tình huống, vấn đề, tình hình… mới xuất hiện, mới nảy sinh (đang cần được thông tin, phản ánh, giải thích, đánh giá, bàn luận để rút kinh nghiệm…).
+ Những con người mới (trong ngành hoặc ngoài ngành), tiêu biểu cho cả hai mặt: tích cực, tiêu cực.
+ Những bệnh tật, những tình huống nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân.... MỘT TÁC PHẨM BÁO CHÍ CẦN
- Khác với tính chất thông tin hành chính của các loại Công văn, Chỉ thị, Thông báo, Báo cáo... thông tin trong các tác phẩm báo chí phải thể hiện một số đặc điểm sau đây:
Trả lời những câu hỏi cơ bản:
- Một tác phẩm báo chí - dù chỉ là một tin vắn vài chục chữ hay một bài phóng sự dài tới hơn một nghìn chữ, mục đích cuối cùng cũng phải nhằm trả lời được những câu hỏi cơ bản có liên quan đến những con người, sự việc, sự kiện, tình huống, hoàn cảnh... mà người viết muốn thông tin. Đó là Công thức 6W + H:
What?  ( Chuyện gì xảy ra?)
Where? ( Xảy ra ở đâu?)
When? ( Xảy ra khi nào?)
Who?  ( Ai liên quan?)
With?(Cùng với những ai?)
Why? ( Tại sao chuyện đó xảy ra?)
How? ( Chuyện xảy ra như thế nào?)
Chi tiết quan trọng trong tác phẩm báo chí
Trong một tác phẩm báo chí, chi tiết có vai trò quan trọng nhất phải đáp ứng được những yêu cầu sau :
+ Phải chỉ ra khía cạnh căn bản nhất của sự vật, hiện tượng.
+ Phải ở vị trí có tính chất then chốt trong toàn bộ những chi tiết, dữ kiện của sự vật, hiện tượng đó.
Việc xác định chi tiết quan trọng nhất để nhấn mạnh nó trong tác phẩm phụ thuộc vào quan niệm sống, thái độ chính trị, nhân cách, vốn văn hoá  quyền lợi của bản thân người viết.
Đầu đề (tít) của tác phẩm báo chí 
- Đầu đề  là một loại tên gọi đặc biệt của tác phẩm báo chí. Nó là sự biểu đạt cô đọng nội dung, thể hiện bản chất, tư tưởng chính trị của tác phẩm, là yếu tố tiếp xúc đầu tiên giữa tác phẩm với công chúng.
- Khác với đầu đề của tác phẩm văn học, đầu đề tác phẩm báo chí có vai trò rất quan trọng. Việc đặt đầu đề có tính quyết định số phận của bài báo. Có khi chỉ cần đọc đầu đề, người ta cũng đã có thể nắm bắt được phần nội dung quan trọng nhất, chủ yếu nhất của tác phẩm báo chí. Bài báo dù rất hay, nhưng đầu đề dở thì có thể làm mất đi ít nhất một nửa độc giả vì đầu đề bài báo là một yếu tố phân biệt bài nào quan trọng hơn bài nào.
- Đầu đề không thể làm nên giá trị của toàn bộ tác phẩm nhưng nó là yếu tố đầu tiên thu hút sự quan tâm của người đọc để họ tự quyết định xem có cần phải đọc cả nội dung bài bào đó (ở trang trong) hay không?
- Đầu đề của tác phẩm báo chí có thể là một tập hợp của một nhóm đầu đề,  được sắp xếp theo trình tự như sau: Đầu đề dẫn (Tít dẫn)- Đầu đề chính  (Tít chính) -Đầu đề phụ  (Tít phụ).
- Nhìn chung, có thể có ba cách đặt đầu đề cho tác phẩm báo chí như sau:
+ Một là rút ra chi tiết, số liệu quan trọng, hấp dẫn nhất: Theo cách này, có thể chọn lấy các chi tiết hoặc số liệu nào đó quan trọng nhất, hấp dẫn nhất, đáng chú ý nhất trong nội dung của tin, bài để đưa vào đầu đề. Ví dụ:
Bệnh viện Việt - Pháp (Hà Nội): U bên trái, cắt bên phải (Báo Lao Động, 16/2/2006).
Khai trừ đảng Viện phó Viện KSND tỉnh Bình Thuận (Báo Thanh Niên, 21/3/2006).
Gà sạch liệu có sạch? (Báo Hà Nội mới, 17/2/2006).
+Hai là rút ra vấn đề, ý nghĩa quan trọng nhất, chủ yếu nhất: Một tác phẩm báo chí có thể chứa đựng nhiều chủ đề hoặc ý nghĩa khác nhau. Trên cơ sở nội dung của tác phẩm, tác giả rút ra vấn đề chủ yếu, quan trọng nhất mà tác phẩm đề cập tới để đặt đầu đề cho tác phẩm. Ví dụ:
Thị trường vật liệu xây dựng: Xi măng “nóng” - Sắt thép “lạnh” (Báo Thanh Niên, 18/1/2006).
“Con thuyền” nhiếp ảnh Việt Nam sẽ đến bến bờ nào? (Báo Thanh Niên, 21/3/2006).
+ Ba là phối hợp cả hai cách nêu trên: Một đầu đề có thể vừa chứa đựng chi tiết chủ yếu, quan trọng, hấp dẫn nhất, đồng thời cũng thể hiện được ý nghĩa hoặc vấn đề quan trọng nhất. Ví dụ:
Cao su tăng giá: Kẻ cười - Người khóc (Báo Lao Động, 16/2/2006).
Sai phạm trong quản lý ngân sách nhà nước ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh: Xử lý kiểu “Đánh trống bỏ dùi” (Báo Bảo vệ Pháp luật từ  21 - 24/2/2006).
Sơn La: Thao thức lòng hồ (Báo Lao động - Xã hội, số Xuân Bính Tuất 2006).
Ngoài ba cách cơ bản nêu trên, trong thực tế còn có thể có rất nhiều cách đặt đầu đề khác được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Chẳng hạn, người ta có thể vận dụng kết hợp toàn bộ hay một phần những câu thơ, lời hát, thành ngữ, tục ngữ, tên sách, tên phim, câu nói nổi tiếng... để đặt tên cho tác phẩm. Còn có thể đặt tít theo cách khác như: sử dụng những câu, chữ đối lập, tượng thanh, tượng hình; trích lời nhân vật; so sánh v.v… Nhưng dù được đặt ra theo cách nào đầu đề của tác phẩm báo chí cũng phải đáp ứng các tiêu chí đúng, hay, gây ấn tượng... Tít phải chuyển tải được thông điệp chính.
- Cần chú ý tránh cách đặt đầu đề chung chung, tránh đặt bằng những lời bình thô thiển, những lời lăng mạ hoặc lối đặt đầu đề bằng câu nghi vấn rất dễ tạo nên hiểu lầm. Ngoài ra, khi đặt đầu đề cho tác phẩm báo chí cần tránh một số lỗi thường gặp sau đây:
+ Không nên dùng những từ lặp lại nhiều lần .
+ Không bê nguyên xi một câu trong bài để làm đầu đề.
+ Tránh dùng câu mập mờ nhiều nghĩa.
+ Tránh những từ ngữ văn hoa sáo rỗng .
+ Không  bông lơn, đùa cợt bằng đầu đề .
Theo một tài liệu có tiêu đề “Tin, Bài, Ảnh báo chí” do tác giả Vũ Bình biên soạn, tít báo phải chứa đựng 3 yếu tố chính là: Ai? Cái gì? Khi nào? Nếu bí quá, có thể sử dụng các yếu tố phụ là: Như thế nào? Tại sao? Ví dụ:
+ Mổ tim trong khi tim đang đập
+ Cảnh giác với “thần dược” trị bách bệnh
Tác giả cho rằng đôi khi có thể sử dụng các chi tiết độc đáo trong bài để rút tít, ví dụ:
+ Hôn nhau cũng có thai
+ Nước đục đến đâu trừ tiền đến đó
Cũng trong tài liệu này, tác giả cho rằng “có 8 cách đặt tít” cho tác phẩm báo chí như sau:
1. Tít phải vừa mang nội dung, vừa gây ấn tượng. Ví dụ:
+ Đem bia ôm, gái điếm đố vui tuổi học trò
+ Kem siêu…bẩn
+ Đề thi sai, phụ huynh lại lên ruột
+ Đừng tin con bổ củi
2. Tít phải ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu. Ví dụ:
Không dùng từ quá chuyên môn. Không viết tắt.
Mỗi tít tối đa 12 chữ. Tít càng ngắn càng hay (để khi trình bày vào trang báo, tít không được quá 2 hàng. Tít tin trong cột dọc không được quá 3 hàng).
3. Nên dùng câu khẳng định. Hạn chế dùng câu nghi vấn. Ví dụ:
+Vietel, nạn nhân mới của “ông độc quyền” VNPT
(Không đặt: VNPT có chơi xấu Vietel).
4. Có thể là câu hoàn chỉnh hoặc không hoàn chỉnh. Ví dụ:
+Câu hoàn chỉnh: Nguyễn Văn A sẽ đi chữa bệnh tại Pháp
+ Câu không hoàn chỉnh: Xa lộ xuyên Á: Nguy hiểm!
5. Đặt tít phải hướng về bạn đọc, thu hút bạn đọc. Ví dụ:
+ Điện thoại di động: chọn nhà cung cấp nào?
(Không đặt: Điện thoại di động: cuộc cạnh tranh khốc liệt).
6. Đặt ít hướng về tương lai. Ví dụ:
+ Hơn 1.000 công nhân công ty A.sắp mất việc làm
(Không đặt: Công ty A năm qua làm ăn thua lỗ)
7. Tít phải phản ánh đúng nội dung bài báo:
Không đặt tít quá “bốc” khi nội dung bài không phải như vậy khiến bạn đọc bực mình, thất vọng.
8. Nguyên tắc “từ khóa” khi đặt tít:
Đề cập đến điều gì thì đặt nó ở ngay đầu tít lớn (tít chính) để làm nổi bật (không đặt ở giữa tít lớn và không đặt ở tít dẫn). Ví dụ:
+ Gia cầm chết hàng loạt: Chính quyền vẫn chưa có quyết sách
(Không đặt: Chính quyền vẫn chưa có quyết sách về dịch cúm gia cầm)
DẠNG BÀI PHẢN ÁNH
3.3.1 Bài phản ánh  sự kiện, sự việc 
- Trong dạng bài này, các sự việc, sự kiện làm nên nội dung chủ yếu của tác phẩm. Trong đó, những câu hỏi như: Chuyện đã xảy ra"? Xảy ra như thế nào?, Vì sao nó xảy ra?, Diễn biến và hậu quả? v.v... thường được trả lời một cách đầy đủ (tuy không phải lúc nào cũng tuân theo một trình tự ổn định như thế).
- Cần chú ý rằng sự kiện, sự việc gồm hai loại: tích cực và tiêu cực: Sự kiện, sự việc tích cực thể hiện xu hướng vận động phát triển tích cực của đời sống. Sự kiện, sự việc tiêu cực thì trái lại. Bài phản ánh có thể tiếp cận với cả hai loại sự kiện nêu trên và căn cứ vào tính chất của sự kiện đó để có hình thức thể hiện  hợp lý.
- Dạng bài này có nhiều điểm gần gũi với các thể loại thuộc nhóm Thông tấn báo chí do việc ưu tiên tối đa cho sự kiện.
3.3.2 Bài phản ánh về quang cảnh, hiện trạng:
- Trong bài phản ánh này, tác giả không có những đề xuất, kiến nghị hay nêu ra những giải pháp nhưng việc trình bày một cách sống động về quang cảnh, hiện trạng có thể gợi ra những suy nghĩ sâu xa cho người đọc... Mục đích của dạng bài này là nhằm giúp người đọc hình dung một cách sinh động về sự thật để từ đó họ tự rút ra được những kết luận cần thiết...
3.3.3 Bài phản ánh về tình huống, vấn đề
- Trong đời sống thường xuyên nảy sinh những tình huống, những vấn đề đa dạng và phức tạp. Cũng giống như sự việc, sự kiện, các tình huống, vấn đề có nhiều tính chất và những cấp độ khác nhau. Đó là đối tượng của dạng Bài phản ánh thuộc dạng này.
- Các tình huống, vấn đề cũng có thể được được chia ra thành hai loại: tích cực và tiêu cực. Tác giả Bài phản ánh phải căn cứ vào tính chất cụ thể của nó để có hình thức thể hiện thích hợp  nhất.
- Bài phản ánh tình huống, vấn đề ngoài việc nêu lên những sự thật mới nảy sinh còn chú ý thẩm định những sự thật đó để rút ra những kết luận hoặc lý lẽ cần thiết.
- Một Bài phản ánh thuộc dạng này thường có kết cấu đi từ thực trạng đến giải pháp dưới dạng những đề xuất, kiến nghị. Trong đó, sự thật được trình bày như những bằng chứng (luận cứ) để thông qua đó tác giả nêu lên quan điểm riêng của mình.
- Do có xu hướng thiên về việc phản ánh vấn đề, dạng bài này có nhiều nét gần gũi với các thể loại thuộc nhóm thứ hai trong hệ thjống các thể loại báo chí là nhóm các thể Chính luận báo chí .
3.3.4 Bài phản ánh về người thật, việc thật
- So với các thể loại có ưu thế trong việc phản ánh về con người như Ký chân dung, Phóng sự chân dung và Phỏng vấn chân dung, dạng Bài phản ánh về người thật, việc thật thường chỉ dừng lại ở cấp độ thấp hơn. Nhìn trên tổng thể, trong những tác phẩm thuộc dạng bài này, chân dung con người hiện lên không thật rõ nét và cấp độ điển hình của nó cũng có phần đa dạng hơn. Tuy nhiên, nếu so với dạng bài Người tốt – việc tốt, dạng bài này thường có dung lượng lớn hơn và có thể phản ánh cả hai loại chân dung tiêu biểu cho hai thái cực: tốt và xấu.
- Dạng bài này thường có kết cấu không ổn định. Trong đó, tác giả cũng có thể xuất hiện trực tiếp với những suy nghĩ, những kiến nghị, giải pháp nhưng chưa đạt tới bản sắc như một một nhân vật trần thuật (như trong các thể loại Phóng sự chân dung hay Ký chân dung).
3.3.5 Bài phản ánh về suy nghĩ, cảm xúc
Trong các dạng bài phản ánh, đây là dạng có hình thức thể hiện khá mềm mại với sự xuất hiện trực tiếp của tác giả. Trong đó, người viết thường xuất hiện ở ngôi thứ nhất, xưng "tôi" và cái tôi đó bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc.
- Mục đích của bài phản ánh thuộc dạng này là vừa thông tin sự thật, vừa thông tin tâm trạng của tác giả.
- Khi viết những tác phẩm thuộc dạng này, người viết phải tự đặt ra cho mình những giới hạn cần thiết để không làm biến đổi bản chất báo chí của tác phẩm. Suy nghĩ và cảm xúc phải luôn luôn gắn bó chặt chẽ với sự thật, xuất phát từ sự thật và nhằm làm sáng tỏ sự thật.
- Cũng giống như dạng bài phản ánh chân dung người thật việc thật, dạng bài này có nhiều nét gần gũi với các thể loại thuộc nhóm thứ ba trong hệ thống thể loại báo chí là nhóm các thể Tài liệu – nghệ thuật.
- Do không có sự ổn định về hình thức, các dạng bài phản ánh nêu trên thường giao thoa, chuyển hoá lẫn nhau và giao thoa với những thể loại ở trong và cả bên ngoài hệ thống thể loại báo chí.
- Trong thực tế, các sự kiện, sự việc, tình huống, vấn đề thường gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau nên việc phân biệt thành các dạng bài phản ánh như trên chỉ là một công việc mang tính lý thuyết đơn thuần. Hiện nay vẫn thường có nhiều bài phản ánh pha trộn giữa các dạng nêu trên nhưng vẫn tạo được hiệu quả tích cực.
3.4. Kỹ năng viết bài phản ánh
Khi đọc một bài phản ánh, người đọc thường đánh giá nó qua mấy câu hỏi sau đây :
+Bài viết này có phản ánh đúng sự thật không ?
+Sự thật đó có đáp ứng được yêu cầu tuyên truyền thời sự không ?
+Nội dung bài viết có logic không?
+ Hình thức thể hiện (kết cấu, ngôn ngữ, văn phong) có tốt không? v.v...
Những đòi hỏi đó cho thấy khi viết một bài phản ánh, người viết phải chú ý đến một số thao tác cơ bản sau đây:
3.4.1 Lựa chọn đúng vấn đề, sự kiện   
- Việc phản ánh đúng sự thật vẫn chưa đủ. Điều còn quan trọng hơn là sự thật đó phải thể hiện đúng sự vận động đích thực của cuộc sống. Cần phải biết loại bỏ những sự thật chỉ mang tính chất ngẫu nhiên, đơn lẻ, đột xuất...
- Để làm được như vậy, ngoài một quan niệm sống đúng đắn, người viết còn phải có khả năng quan sát và suy nghĩ một cách tỉnh táo .
- Những người viết có kinh nghiệm thường chỉ viết về những điều mà chính anh ta tin tưởng. Khi cần, họ có thể tham khảo thêm ý kiến thẩm định của những người xung quanh. Nếu tác giả không tin vào những điều mà anh ta viết, anh ta cũng sẽ không thể thuyết phục người đọc tin tưởng.
- Trước khi bắt đầu viết, tác giả nên tự hỏi: Liệu rằng những điều được thông tin, phản ánh trong bài viết có đáp ứng được yêu cầu tuyên truyền thời sự không? Liệu độc giả có quan tâm đến sự kiện, vấn đề, con người, tình huống… mà bài viết mang tới cho họ không?.
3.4.2 Lựa chọn cách thể hiện thích hợp
- Khi đứng trước một sự kiện hay vấn đề nào đó, cần phải hình thành được ấn tượng về nó và chỉ nên viết khi ấn tượng đã trở nên sâu đậm. Phải nắm lấy những ấn tượng vì chính ấn tượng đó sẽ giúp tác giả lựa chọn cách thể hiện thích hợp nhất.
- Cố gắng tìm ra được một góc tiếp cận hợp lý nhất đối với sự thật trong bài viết. Một góc tiếp cận đúng đắn là dấu hiệu chắc chắn của một bài viết thành công .
- Cần đặc biệt chú ý đến bối cảnh điển hình của sự thật trong tác phẩm. Bất cứ con người, sự việc, sự kiện hay một quang cảnh, hiện trạng nào đó bao giờ cũng có những bối cảnh của nó. Người viết phải biết phản ánh những chi tiết chủ yếu nhất trên nền của bối cảnh điển hình đó.
Các cách thể hiện một bài phản ánh
- Bài phản ánh có thể có nhiều hình hài, nhiều dáng vẻ khác nhau. Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, chúng ta vẫn có thể xác định được một số cách thể hiện chủ yếu của nó. Nhìn chung có ba cách thể hiện bài phản ánh.
+Một là theo trục thời gian từ quá khứ đến hiện tại: Đây là cách thể hiện truyền thống. Ưu điểm của nó là công chúng dễ hiểu, dễ theo dõi. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của nó là dễ bị nhàm chán vì những cái quan trọng, hấp dẫn nhất có thể lại không nằm ở đầu bài.
+ Hai là bắt đầu từ hiện tại, sau đó quay lại quá khứ theo kiểu một cuốn phim chiếu ngược (đây là cách thể hiện thường gặp trong các tác phẩm báo chí nói chung. Ưu điểm cơ bản của cách này là có thể đưa ngay kết qủa hoặc những chi tiết quan trọng lên đầu bài viết, tạo ra sự hấp dẫn đối công chúng. Tuy nhiên, do trật tự thời gian bị đảo ngược nên nếu người viết không vững tay, bài viết có thể trở nên khó hiểu...)
+ Ba là kết hợp cả hai cách nêu trên theo lối kết cấu: hiện tại - quá khứ - hiện tại (đây là lối thể hiện thường gặp nhất của các dạng Bài phản ánh trên báo chí hiện nay. Do đã kết hợp được những ưu điểm của cả hai dạng kết cấu trước, những bài viết theo cách này thường hấp dẫn, chặt chẽ).
Chú ý: Không có một quy định cụ thể nào cho các dạng bài báo. Nguyên tắc chủ yếu ở đây là nội dung nào, hình thức ấy. Cách tốt nhất là để cho mạch viết tự nó tìm đường đi. Không nên ép buộc và đừng cố gắng lên giọng nếu điều đó không cần thiết.
- Lối viết với văn phong đơn giản, trực tiếp, ngôn ngữ dản dị, dễ hiểu, gần gũi với ngôn ngữ của đời sống hàng ngày là sự lựa chọn đúng đắn nhất đối với tác phẩm báo chí và những dạng Bài phản  ánh nói riêng.
+ Cần chú ý là một bài phản ánh đăng trên tạp chí và trên trang thông tin nên có dung lượng khoảng từ 700 đến 1.000 chữ. Mỗi bài viết nên có ít nhất là một tấm ảnh minh họa. Các tấm ảnh phải đáp ứng được những yêu cầu về bố cục, ánh sáng, góc độ… và phải bổ sung thông tin cho bài viết.
4. KHAI THÁC BÁO CÁO  ĐỂ VIẾT TIN, BÀI
4.1. Tính chất, đặc điểm của báo cáo
- Một báo cáo được coi là tốt phải đáp ứng một số yêu cầu như:
+Có nội dung xác thực, rõ ràng, được trình bày một cách đầy đủ và thuyết phục thông qua một hệ thống các chi tiết, số liệu, sự việc, sự kiện tiêu biểu, điển hình, thể hiện rõ sự vận động của phạm vi hiện thực đời sống mà báo cáo đề cập.
+Quan điểm của người ( hoặc cơ quan) soạn thảo báo cáo được nêu ra một cách rõ ràng .
+Báo cáo được trình bày một cách mạch lạc với những lập luận ngắn gọn, văn phong trong sáng, đảm bảo tính logic.
+Cung cấp được những thông tin tiêu biểu và có độ tin cậy cao.
4.2. Kỹ năng khai thác báo cáo
- Trước khi khai thác một báo cáo, cần phải có dự định sẽ sử dụng những tư liệu khai thác được để viết ra tác phẩm báo chí thuộc thể loại nào (tin hay bài báo, phóng sự...) hay để viết một bài phản ánh? Những đặc điểm của các thể loại khác nhau sẽ hình thành những cách khai thác báo cáo không giống nhau.
- Xác định rõ những phần không thể khai thác và những chi tiết, số liệu, dữ kiện... nào trong báo cáo có thể khai thác được. Xác định các chi tiết quan trọng, then chốt có thể gợi ra bản chất của sự việc hay vấn đề mà báo cáo đề cập tới.
- Thông thường, trong một báo cáo, phần khai thác được nhiều nhất là ở các con số, chi tiết cụ thể. Phần ít khai thác được là những đoạn văn giao đãi viết theo công thức hoặc những đoạn bình luận dài dòng, tán tụng biểu dương thành tích chung chung mà không có những bằng chứng thực sự thuyết phục.
- Cần kiểm tra độ tin cậy của các số liệu trong báo cáo. Thống kê hệ thống các chi tiết, dữ kiện và kiểm tra lại xem chúng có logic với nhau không?
- Đối với những chi tiết quan trọng, then chốt cần phải có sự giám định và xác minh bằng những phương pháp nghiệp vụ cần thiết.
- Không được đưa vào trong tác phẩm báo chí những chi tiết, số liệu tuy có trong báo cáo nhưng còn mâu thuẫn với nhau hoặc vẫn còn gợi lên cảm nghi ngờ, khó hiểu. Nếu không có điều kiện kiểm tra, đối chiếu lại thì tốt nhất là không sử dụng